아이들을 위한 교육에 대한 – Luyện dịch Hàn Việt (Số 78)

Chào bạn đọc của Blogkimchi, hôm nay Blog sẽ chia sẻ tiếp tới bạn đọc một bài đọc hiểu nữa trong loạt bài chủ đề “Đọc hiểu – Luyện dịch Hàn Việt“. Chủ đề của bài ngày hôm nay là về giáo dục trẻ em, chúng ta cùng đi tìm hiểu trả lời cho câu hỏi “내 아이가 친구를 잘 사귀지 못하는 이유? – Lý do tại sao con tôi không thể kết bạn với bạn bè“.

TIP: Vì bài khá dài nên ad tách ra phần nội dung lọc từ vựng riêng, nên theo ad thì các bạn → Vào Đây đọc phần nghĩa từ vựng trước, sao đó quay lại đây đọc Vietsub thì sẽ đúng quy trình hơn.

평소와 다름없이 어린이집에 잘 다녀온 줄 알았는데, 한껏 위축된 얼굴로 “그 친구와 놀고 싶은데, 나랑 놀지 않아요. 어떻게 해야 되나요?”라고 말하는 아이. 그런 아이를 보면 엄마의 마음은 와르르 무너지는 것만 같다. 친구와 어떤 문제가 있는 건지, 행여나 내 아이가 상처를 입은 것은 아닌지, 내가 어떻게 도와줘야 할지 복잡한 생각은 꼬리에 꼬리를 물고 이어진다.

Cứ đinh ninh rằng con đi học ở nhà trẻ về như ngày thường không có chuyện gì lạ thì con của tôi với vẻ mặt rất buồn nói với tôi rằng “Con muốn chơi với bạn đó, nhưng bạn đó không chơi với con, con phải làm sao?”. Khi nhìn thấy đứa trẻ như vậy trái tim người mẹ dường như sụp đổ. Liệu con tôi với bạn có vấn đề gì chăng, hay không biết là liệu con tôi có tổn thương gì hay không, tôi phải làm sao đây để giúp con mình những suy nghĩ rối bời cứ nối đuôi nhau.(꼬리에 꼬리를 물다 /Thành ngữ/: Đuôi cắn vào đuôi, ý nói việc gì đó liên tiếp, nối tiếp xảy đến(ra))

새 학기가 시작되는 봄날, 새로운 기관에 등원하는 요즘 엄마들의 가장 큰 관심사는 바로 “아이의 사회성”이다. 아이가 기관이나 학교에 잘 적응할지, 좋은 친구를 잘 사귀어 나갈지가 궁금한 부모들은 아이들을 향해 한껏 레이더를 세우고 있다. 그런데 아이러니하게도 사회성에 대한 관심은 높은데, 아이의 사회성을 길러주는 행동은 점점 줄어가고 있다. 바로 아이의 학업 때문이다.

Mùa xuân kì học mới bắt đầu, mối quan tâm lớn nhất của các bà mẹ có con cái vào các cơ sở giáo dục mới chính là “kỹ năng xã hội (kỹ năng sống) của trẻ“. Liệu con cái có thích ứng tốt ở nhà trẻ hay trường học hay không, có kết bạn được với bạn tốt hay không, các bà mẹ rất muốn biết những điều đó nên đang đặt sự quan sát vào con cái mình(thiết lập radar cho con cái mình). Nhưng lại trớ chêu thay là mối quan tâm đến kỹ năng xã hội của trẻ rất lớn, nhưng hành động nuôi dưỡng kỹ năng mềm cho trẻ lại giảm dần, đó chính là vì việc học của trẻ.

“아이의 학습 경험과 놀이 경험은 반비례하고 있다!”

→ Việc học tập kiến thức và kinh nghiệm vui chơi của trẻ đang tỷ lệ nghịch.

아이들이 없는 텅 빈 놀이터가 이를 대번에 보여준다. 아이들의 놀이 시간이 줄어들어 아이들은 이제 친구를 사귀는 것도 엄마의 도움을 받아야만 한다. “끌리는 친구”가 있는데, 그 친구에게 다가갈 방법과 사귀는 방법을 모른다. 바로 놀이 경험이 부족하기 때문이다. 놀이를 하다 자연스럽게 옆에 있는 친구와 교류하고 자연스럽게 정서를 주고받는 시간이 절대적으로 부족하다. 그럴 시간이면 학원 하나를 더 보내고, 글자 하나를 더 익히는 편이 아이에게 훨씬 더욱 도움이 된다고 부모들이 생각하기 때문이다. 그런데 과연 그것이 아이에게 진짜 도움이 될까?

Khu vui chơi trẻ em trống không, không có trẻ em cho chúng ta thấy ngay điều đó. Thời gian vui chơi của trẻ bị giảm đi và bây giờ bọn trẻ phải nhờ đến cha mẹ giúp đỡ kết bạn với bạn bè. Có một người bạn “thu hút(ng bạn đó rất thú vị muốn chơi với người đó)”, nhưng không biết làm sao để tiếp cận và kết bạn được với người bạn đó. Đó chính là do kinh nghiệm vui chơi của trẻ bị thiếu. Trẻ rất thiếu khoảng thời gian để vui chơi với bạn bè, khi vui chơi với bạn bè trẻ sẽ tự nhiên giao lưu với nhau, chia sẻ tình cảm cho nhau một cách tự nhiên. Nhưng vì bố mẹ trẻ thì lại nghĩ rằng khoàng thời gian đó thì gửi con đến thêm một trung tâm bồi dưỡng nữa, học thêm con chữ nữa sẽ giúp ích cho con cái mình nhiều hơn. Nhưng có đúng là làm như vậy thực sự là giúp cho con mình hay không?

놀이 시간은 사회성에도 학원에도 필수조건!

→ Thời gian chơi là điều kiện cần cho kỹ năng mềm và cũng cần có ở nơi học thêm.

최근 연세대 사회발전연구소 염유식 교수팀이 발표한 ‘2016 제8차 어린이, 청소년 행복지수 국제비교연구’ 보고서에 따르면 우리나라 어린이의 주관적 행복지수는 OECD 국가 중 가장 낮은 점수(82점)를 받았다. 특히나 충격적인 것은 우리나라 어린이, 청소년 중 20%가 ‘자살충동’을 경험했다는 조사내용이다. 이것은 아이가 느끼는 행복감과 만족감이 얼마나 낮은지를 대번에 보여준다.

Theo công bố nghiên cứu của nhóm giáo sư (염유식), thuộc trường đại học Yonsei “Nghiên cứu so sánh quốc tế lần 8 năm 2016 về chỉ số hạnh phúc của trẻ em, thanh thiếu niên” thì đất nước chúng ta(đang nói về Hàn Quốc) chỉ số hạnh phúc mang tính chủ quan của trẻ em chỉ đạt 82 điểm đứng thấp nhất trong khối các nước OECD. Đặc biệt sốc hơn nữa là nội dung cuộc khảo sát cho thấy 20% trẻ em, thanh thiếu niên ở Hàn Quốc từng trải qua ý định tự tử. Điều đó cho chúng ta thấy ngay được trẻ em đang có mức độ hạnh phúc và hài lòng thấp đến mức như thế nào.

현실을 보자. 하루 24시간이라는 시간은 한정되어 있는데, 해야 할 학업은 끝도 없다. 부모들이 학업보다 ‘놀이’를 덜 중요하게 여기니 놀이시간이 줄어들게 된다. 보고에 따르면 우리나라 아이들이 노는 시간은 게임하는 시간 105분, TV 보는 시간 106분이다. 친구와 함께 노는 시간은? 겨우 30분이다.

Nào hãy nhìn vào thực tế. Mỗi ngày giới hạn là 24 tiếng, nhưng mà sự học thì không thời điểm dừng. Bố mẹ trẻ cho rằng việc học quan trọng hơn việc chơi nên là giảm thời gian chơi của trẻ xuống cũng không sao. Theo báo cáo, thời gian chơi điện tử của trẻ em Hàn Quốc là 105 phút, thời gian xem ti vi là 106 phút. Còn thời gian trẻ chơi với nhau? Chỉ chưa đến 30 phút.

이렇다 보니 자연스럽게 아이들이 친구와 함께 놀면서 배우는 것들이 부족해지게 되었다. 바로 “사회성”이다. 사회성은 책을 읽는다고 해서 늘어나는 것이 아니다. 바로 “놀이 경험”을 함으로써[1] 스스로 터득해나가는 능력이기 때문에 “친구와 노는 시간”이 절대적으로 필요하다. 그런데 이 놀이 시간이 학업 시간에 밀려 줄어들기 때문에 아이들은 “스스로 친구를 사귀는 법”을 모른 채[2] 성장해 나간다.

Vậy nên là những đứa trẻ thiếu đi những điều mà sẽ học được khi vui chơi tự nhiên với bạn bè. Đó chính là “kĩ năng sống‘. Kỹ năng xã hội không tăng lên khi bạn đọc sách về kỹ năng. Thời gian chơi với bạn bè vô cùng cần thiết bởi thông qua kinh nghiệm chơi trẻ sẽ nắm bắt được kỹ năng. Nhưng vì thời gian vui chơi của trẻ bị rút ngắn lại do đẩy vào thời gian học, vậy là những đứa trẻ cứ thế lớn lên mà không biết cách tự kết bạn với bạn bè.

아이의 행복을 위해 지금 아이에게 학업을 늘리기보다는 아이의 놀이시간을 늘려보는 것은 어떨까? 놀이 시간을 늘리는 것은 사회성만이 아니라 아이의 인지능력을 위해서도 좋은 선택이다. 아이는 놀이에서 문제를 해결하는 법과 생각하는 법, 다른 사람과 소통하는 법을 배운다. 그것이야말로[3] 아이가 행복한 삶을 살아가는 데[4] 반드시 필요한 능력들임을 잊지 말자.

Vì hạnh phúc của đứa trẻ bạn nghĩ sao về việc thay vì tăng thời gian học tập thì tăng thời gian chơi cho trẻ? Việc tăng thời gian chơi cho trẻ không chỉ vì kỹ năng mềm cho trẻ mà còn là sự lựa chọn tốt cho phát triển năng lực nhận thức của trẻ. Trẻ em học cách giải quyết vấn đề trong trò chơi, học cách suy nghĩ cách giao tiếp với bạn bè. Đừng quên đó chính là những kỹ năng cần thiết để trẻ có một cuộc sống hạnh phúc.

Nguồn @bookfit on brunch

Dịch bởi Blogkimchi

Chú thích một số ngữ pháp:

→ Blog đã gán link ngữ pháp riêng, bạn nào cần tham khảo ngữ pháp nào thì nhấp vào tên ngữ pháp đó:

으로써[1] : bằng, với.., 른 채[2]: giữ nguyên trạng thái của sự việc hiện tượng, để thực hiện việc khác,야말로[3]: Chính là, đó chính là, ngữ pháp dùng nhấn mạnh., 는 데[4]:ngữ pháp cao cấp (việc, sự việc).

*  *  *  *  *  *  *

→ Chuyên mục: Luyện dịch Hàn Việt
→ Để thể hiện bạn quan tâm những bài viết trên Blog hãy đánh giá Voite bài viết này theo cảm nhận của bạn nhé.

Hai thẻ thay đổi nội dung bên dưới.
Chia sẻ bài viết hoặc gửi cho bạn bè: