진상 손님 – Luyện dịch Hàn Việt (Số 76)

Tiếp một bài trong chuỗi bài thuộc chuyên đề Đọc hiểu – Luyện dịch. Bài hôm nay mang tính chất đọc giải trí thôi nhé các bạn từ ngữ không có gì là hàn lâm khó khăn cả nhé ~ dân dã lắm.

Bài cách viết ngôn từ đơn giản thôi nên là khá ít từ vựng, các bạn xem trước nhé.

레스토랑: nhà hàng kiểu tây웨이터: phục vụ, công việc phục vụ bàn
친절하다: thân thiện상냥하다: hòa nhã, trìu mến
사라지다: biến mất낯선 손님: khác lạ ( Khách quen là 단골 손님)
진상 손님: khách khó tính, khó chiều, khó chịu다짜고짜: bất thình lình, đột nhiên
불평불만: bất mãn, phàn nàn퉁명스럽다: cộc lốc, lỗ mãng
버럭: đùng đùng가리키다: chỉ, trỏ

진상 손님 – Vị khách khó tính

소연 씨는 작은 레스토랑에서 웨이터로 일하고 있었다. 소연 씨는 손님에게 언제나 친절하고 상냥했으며 얼굴에는 [1]미소가 사라질 줄 몰랐다.

So Yoen làm phục vụ bàn trong một nhà hàng kiểu tây. Cô ấy lúc nào cũng thân thiện hòa nhã với khách hàng và chả bao giờ tắt nụ cười trên khuôn mặt ấy.

어느 날 식당에 낯선 손님이 들어왔다. 소연 씨는 그 손님의 자리에 메뉴를 놓았다. 손님은 메뉴를 한참 들여다본 후에 주문을 했다. 주문을 받은 소연 씨는 주방에 전해주고 나왔다.

Vào một hôm có một vị khách lạ vào quán. So Yeon mang thực đơn tới bàn vị khách đó. Vị khách nhìn thực đơn một hồi rồi gọi món, So Yeon nhận gọi món vào truyền đạt lại cho nhà bếp rồi đi ra.

갑자기 아까 그 손님이 소연 씨를 불러서는 다짜고짜 반말로 불평했다.

“이봐, 이 식당은 왜 이렇게 더워? 에어컨 좀 켜 봐.”

Bất ngờ vị khách mới vào hồi nãy gọi So Yeon sỗ sàng phàn nàn chẳng có đầu đuôi.

“Này, sao cái nhà hàng này nóng thế? Bật cái điều hòa lên cái coi”

“네, 알겠습니다.” 소연 씨는 여전히 미소를 지으며 손님에게 말했다.

주방으로 다시 돌아갔다가 나온 소연 씨는 다른 손님들을 받기 시작했다. 잠시 후에 아까의 그 손님이 다시 소연 씨를 불렀다. 어이, 알바! 에어컨을 왜 이렇게 세게 켰어? 이젠 너무 춥잖아!” 손님의 말투는 더 퉁명스러워졌다.

So Yoen vẫn như thường lệ nở nụ cười vui vẻ nói với khách ” Dạ, vâng ạ”

So Yoen trở vào trong bếp rồi lại ra ngoài đón khách. Một lúc sau lại vị khách hồi nãy gọi So Yoen tới, rồi lại nói lỗ mãng ‘trời đất, này cô làm thêm, sao lại bật điều hòa mạnh thế? bây giờ rất là lạnh đấy’.

“네, 알겠습니다. 당장 온도를 높이겠습니다.” 소연 씨는 다시 주방으로 달려갔다.

몇 분 후에 소연 씨가 음식을 가져다 주자 손님은 다시 불평하기 시작했다.

“Dạ, nhà hàng sẽ bật tăng độ lên ngay ạ” So Yoen nói rồi vội đi nhanh vào trong bếp.

Một lúc sau khi cô ấy mang đồ ăn ra ngoài thì vị khách lại bắt đầu phàn nàn.

“너 지금 기분 나빠서 그래? 이젠 너무 덥잖아! 에어컨 다시 켜라고!”

소연 씨는 죄송하다고 한 후에 다시 주방으로 돌아갔다.

“Cô bây giờ chắc đang bực tức lắm hả? Bây giờ thì lại rất chi là nóng, bật lại điều hòa đi”

So Yoen nói xin lỗi khách sau đó lại trở vào bếp.

당연하게도 또 얼마 지나지 않아 진상 손님은 너무 춥다며 버럭 화를 내기 시작했다.

“너하고는 말이 안 통하는군! 주인 불러 와!”

Y rằng chả được mấy hồi vị khách khó chiều lại kêu lạnh quá, rồi bắt đầu đùng đùng nổi đóa lên.

“Cô nghe không thủng lời của tôi thì phải, gọi chủ nhà hàng ra đây”

식당 주인이 나오자 진상 손님은 소연 씨를 손가락으로 가리키며 화를 냈다.

“이놈 멍청이 아냐? 처음에 너무 더워서 에어컨을 켜라고[2] 하니까 너무 세게 켠 거야. 그래서 줄이라고 했더니[2] 더워 죽겠더라고. 그래서 켜라고 했더니 얼어 죽을 지경이야. 뭐, 제대로 하는 게 없잖아!”

Chủ nhà hàng đi ra, vị khách khó chiều liền chỉ trỏ So Yoen nói.

“Đứa này nó bị đần à? Lúc đầu nóng quá bảo nó bật điều hòa lên thì nó bật rõ mạnh, thế rồi bảo nó giảm điều hòa đi thì lại giảm đến mức nóng chết đi được. Lại phải bảo bật điều hòa lên nó lại bật lạnh đến mức chết cóng đấy. Không làm được cái gì nên hồn cả”

식당 주인이 말했다. “죄송합니다, 손님. 하지만 저희 식당에는 에어컨이 없는데요.”

Rồi chủ nhà hàng kia nói với vị khách kia ” Rất xin lỗi quý khách, nhưng mà nhà hàng chúng tôi hổng có điều hòa mà” ㅋㅋㅋㅋ Chắc đây chỉ là chuyện hư cấu chứ mà có thật thì lúc thằng chủ nói xong nhân viên phải cười ỉa vào mặt thằng hâm đấy.

Một số chú thích

[1]미소가 사라질 줄 몰랐다: Chỗ này dùng ngữ pháp (으)ㄹ 줄 모르다, tuy nhiên chắc sẽ có bạn hơi khó hiểu. Nên ad chú thích một chút. 얼굴에는 미소가 사라질 줄 몰랐다. Dịch thô ghép từ là “tôi không biết nụ cười biến mất trên khuôn mặt” nghĩa là → “chưa từng, chưa bao giờ thấy khuôn mặt đó không nở nụ cười” → Nụ cười không bao giờ tắt.

에어컨을 켜라고[2]: Và một số chỗ trong bài dùng cấu trúc ngữ pháp nói gián tiếp trong tiếng hàn như ㄴ/는다고 하다, (이)라고 하다..

→ Chuyên mục: Luyện dịch Hàn Việt
→ Nếu thấy bài đọc này có ích hãy kéo xuống dưới xíu nhấn Voite bài viết này nhé!

Hai thẻ thay đổi nội dung bên dưới.
Chia sẻ bài viết hoặc gửi cho bạn bè: