재수 없는 날 – Luyện dịch Hàn Việt (Số 79)

Xin chào bạn đọc Blogkimchi, hôm nay là Thứ 6 ngày 13 cuối cùng của năm 2020. Nhân ngày đen đủi của “thế giới” ad cũng xin dịch một bài đọc về một “cậu học sinh đen đủi” nhọ hơn đít nồi luôn. Các bạn hãy cùng đọc nhé. Chất văn tả thực nên cũng không có gì khó khăn cả đâu.

Với chất văn tả thực-nhật ký nên đọc câu từ không có gì khó và thấy lặp lại nhiều nhất là các ngữ pháp thiên về dòng “trần thuật-kể” đó là: thì, , nên (는데; (으)니)

아 오늘은 정말 재수가 없는 날이었다 아침부터! 뭐 하나 제대로 되는 일이 없었다. 어제 자기 전에 분명히 알람을 맞춰 놓았는데 무슨 이유인지 알람이 들리지 않아서 늦잠을 잤던 것이다. 상을 차려 먹을 시간이 없을 것 같아서 아침 식사로 토스트를 먹으려고 했는데 실수로 다 태워버렸다. 남은 식빵이 없어서 결국 나는 타버린 토스트를 먹어야 했다. 왠지 불길한 시작이었다.

Hazz thật là hôm nay quả là một ngày đen đủi! Không làm được cái việc gì nên hồn cả. Tối qua rõ ràng trước khi ngủ đã chỉnh đặt đúng báo thức rồi mà không hiểu lý do gì nữa mà lại không nghe thấy nên đã ngủ dậy muộn. Không có thời gian bày biện bữa sáng nên đã định ăn bánh mì nướng nhưng mà hậu đậu lại cháy đen hết. Không còn bánh mì dư nên cuối cùng phải ăn bánh mì cháy. Chẳng hiểu sao bắt đầu ngày mới đã đen đủi vậy.

우리 집에서 지하철역까지는 10분 정도를 걸어야 하는데 나는 헐레벌떡 뛰어서 역에 도착한 후에야 지갑을 안 챙겼다는 걸 알게 되었다. 그래서 결국 집까지 되돌아와야 했다. 지하철을 놓쳤으니 당연히 첫 수업에도 늦었다. 교수님은 보통 출석을 부르지 않으시는데 하필 오늘은 무슨 기분이 드셨는지 출석을 불렀다고 한다.

Từ nhà mình ra đến ga tàu điện ngầm mất khoảng mười phút đi bộ nên mình đã chạy thục mạng ra đến ga phải một lúc sau mới nhận ra là mình đã không mang theo ví(bóp). Vậy là lại phải chạy ngược về, bị lỡ tàu nên chắc chắn cũng muộn mất tiết học đầu tiên. Bình thường giáo sư không gọi điểm danh, mà đéo hiểu sao lại rơi vào hôm nay ông thầy lại gọi điểm danh.

점심시간이 돼서 친구들과 식당에 가니까 사람들이 길게 줄을 서 있었다. 줄을 서서 기다릴지 말지를 고민하다가 그냥 기다려 보기로 했는데 줄이 좀처럼 줄지 않아 시간이 너무 많이 흘러버렸다. 아침도 대충 먹었으니 점심은 잘 챙겨먹고 싶었는데 아무래도 다음 수업 시간까지는 먹을 수가 없을 것 같아서 편의점에서 김밥을 사서 수업에 들어갔다.

Đến giờ cơm trưa cùng bạn đi ra quán ăn thì hàng dài người đã đứng đợi xếp hàng chờ. Đã phân vân là có nên chờ hay không nhưng rồi kệ quyết định chờ chờ mất rất nhiều thì giờ mà hàng người mãi không bớt. Sáng đã ăn qua loa đại khái định bụng bữa trưa ăn đàng hoàng nhưng mà dù sao chắc cũng không chờ ăn được tới tận tiết học sau nên đã ra cửa hàng tiện lợi mua cơm cuộn mang vào lớp.

우리는 수업이 시작하기 전에 허겁지겁 김밥을 먹었는데 강의실에 들어오신 교수님께서는 누가 여기에서 음식을 먹었냐면서 불쾌한 표정을 지으셨다. 가만히 손을 들었더니 교수님께서는 공공장소에서 음식 냄새를 풍기지 말라며 우리를 혼내셨다.

Chúng tôi đã phải ăn cơm cuộn vội vội vàng vàng trước khi tiết học bắt đầu thế mà giáo sư bước vào đã vẻ mặt khó chịu hỏi ‘ai đã ăn trong lớp học thế hả?’. Tôi yên lặng giơ tay lên thế là giáo sư mắng là đừng có để mùi đồ ăn bốc ra nơi công cộng.

저녁이 되자 나는 친구들에게 술이나 한 잔 하자고 했다. 짜증나는 일이 많아서 기분 전환을 하고 싶었기 때문이다. 그런데 친구들과 술을 마시고 집으로 돌아가는 길에 핸드폰을 떨어뜨리고 말았다. 설마 설마 했는데 역시 모서리가 깨져 있었다. 아, 이거 수리하려면 또 만 원들 텐데. 정말 끝까지 재수 없는 하루였다. 내일은 제발 좀 나았으면 좋겠다.

Đến tối tôi đã rủ bạn bè đi làm chén nhậu. Quá nhiều bực bội nên muốn đi giải tỏa tâm trạng. Nhưng mà sau khi đi nhậu với bạn xong trên đường về nhà lại bị rơi điện thoại. Trời đất không thể tưởng tượng đúng là mép điện thoại đã bị vỡ. Hazz, cái này mà mang đi sửa chắc lại mất 10 ngàn uôn. Đúng là ngày đen đủi vô cùng. Cầu trời ngày mai đỡ nhọ.

*  *  *  *  *  *  *

→ Chuyên mục: Luyện dịch Hàn Việt
→ Để thể hiện bạn quan tâm những bài viết trên Blog hãy đánh giá Voite bài viết này theo cảm nhận của bạn nhé.

Hai thẻ thay đổi nội dung bên dưới.
Chia sẻ bài viết hoặc gửi cho bạn bè: